Bài toán vốn còn nhiều ẩn số
Quả thực lên Gia Lai tôi cảm nhận được tinh thần sôi động trong các buổi làm việc với các lãnh đạo tỉnh về xây dựng NTM. Tôi được nghe nhiều tranh luận, nhưng thấy cuối cùng đều bị chặn lại trước nỗi lo: nguồn vốn đầu tư từ đâu? Khi việc quy hoạch đã sẵn sàng, ý chí và kỳ vọng của cán bộ và nhân dân vùng đồng bào các dân tộc đang sôi sục mong đến ngày được nhìn thấy những đường chỉ, kẻ vẽ trong bản quy hoạch hiển hiện trong thực tiễn.
Gia Lai hiện có 222 xã. Đến tháng 11/2011, đã có 186 xã gửi đề án về tỉnh; bình quân khoảng 200 tỷ đồng/đề án. Theo Quyết định số 800/QĐ-TTg, vốn xây dựng NTM được lấy từ 2 nguồn, thứ nhất là ngân sách Nhà nước với 40%, trong đó có 17% được cấp cho các khoản: Xây dựng đề án, đường giao thông đến trung tâm xã, trường học chuẩn quốc gia, trạm y tế, nhà văn hóa, bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ chuyên trách; 23% còn lại lấy từ nguồn tài trợ và lồng ghép với các "Chương trình mục tiêu Quốc gia" khác. Phần xã phải lo 60%, gồm: thu hút vốn tín dụng khoảng 30%, liên kết với các loại hình kinh tế khoảng 20%, huy động đóng góp của cộng đồng dân cư khoảng 10%.
Bảy ngày đi huyện, đến nhiều xã, tôi cũng đã nhận ra, danh mục các nguồn cung vốn đã được hoạch định thành những con số tối đa, tối thiểu đến từng đồng một. Thoạt nhìn thấy rất cụ thể, nhưng bên trong quả thực chứa đựng nhiều ẩn số. Ví như vốn từ liên kết với các loại hình kinh tế, được hoạch định mức thu hút đến 20%, rõ ràng là loại vốn tiềm năng. Tôi thấy thực tế rất ít xã thu hút được đầu tư, hoặc hỗ trợ của doanh nghiệp. Ngay vốn tín dụng, "đề án mẫu" hoạch định "hút" 30%, nhưng rõ ràng doanh số cho vay, tỷ trọng tăng trưởng tín dụng hàng năm... là do NHTM quyết định, xã làm sao có thể chủ động điều hành được...
Tại huyện KBang, ông Đoàn Thanh Hùng - Phó trưởng ban thường trực Ban xây dựng NTM của huyện phấn khởi cho biết: "Cả 13 xã của KBang đã hoàn thành "Đề án xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020", với tổng kinh phí trên 2.036 tỷ đồng. Huyện chỉ còn chờ đề án được duyệt, các xã chờ có vốn là sẽ "khởi công" thực hiện đề án được ngay". Nhưng tại xã Sơ Pai, cách huyện lỵ chừng mười cây số, Chủ tịch UBND xã Nguyễn Mạnh Tuyển lại không dấu tâm trạng lo lắng hơn là mừng vui khi cho tôi biết: “Tổng nhu cầu vốn của xã lên đến 262,019 tỷ đồng. Xã phân bổ: Vốn Nhà nước 126,364 tỷ đồng, chiếm 48,23%; vốn doanh nghiệp 33,61 tỷ đồng, chiếm 12,8%; vốn tín dụng 75,61 tỷ đồng, chiếm 28,85%; vốn huy động nhân dân đóng góp 26,435 tỷ đồng, chiếm 10,08%. Nhưng... các nguồn vốn đó vẫn chỉ là "đếm cua trong lỗ" mà thôi”.
Xã lo là vì, nếu so với Bộ tiêu chí NTM, Sơ Pai mới chỉ đạt có 3 là: quy hoạch, điện và an ninh, trật tự (tiêu chí số 1, 4 và 19), còn các tiêu chí khác đều chưa đạt. Lấy thí dụ giao thông, gồm: đường liên xã dài 12,2 km, liên thôn 17,55 km, đường trục chính nội đồng 11,9 km, chỉ đạt được 7%, với mỗi 2,6 km đường liên thôn đã được bê tông hóa. Từ nay đến năm 2015, theo đề án xã cần có 27,62 tỷ đồng để 38,8 km đường giao thông đạt chuẩn. Xã cũng đã phân bổ vốn Nhà nước 17,82 tỷ đồng, vốn doanh nghiệp 2,02 tỷ đồng, vốn dân góp 7,76 tỷ đồng. Nhưng trong danh mục đó, có lẽ chỉ vốn dân đóng góp, chủ yếu là công lao động rải ra theo lộ trình 5 năm, bằng sự vận động của xã, là thấy khả thi.
Còn mừng là bởi, nhờ có chủ trương của Đảng và Chính phủ về xây dựng NTM mà lần đầu tiên Sơ Pai được huyện, tỉnh giúp làm được quy hoạch phát triển toàn diện cho xã, một cách bài bản, có lộ trình rõ ràng, có những mục tiêu được lượng hóa cụ thể, để khi đề án được phê duyệt, xã có cơ sở pháp lý cho chiến lược xây dựng NTM của mình. Mừng nhất là chi phí cho xây dựng đề án hết 100 triệu đồng đã được ngân sách Nhà nước chi trả. Dân Sơ Pai càng phấn khởi, vì còn được nhận 394 triệu đồng cho hỗ trợ sản xuất và 13 triệu đồng cho công tác tuyên truyền...
Nhưng nội lực có hạn
Hỏi đến "nội lực", ông Chủ tịch như được dịp trải lòng: "Xã còn nghèo lắm nhà báo ơi! Như năm 2010 dù đạt 146% so với chỉ tiêu kế hoạch, nhưng tổng thu ngân sách xã cũng chỉ ở mức 1,775 tỷ đồng, tương đương mức chi ngân sách cùng năm. Dân Sơ Pai sống bằng nghề nông, thu nhập bình quân 8 triệu đồng/người/năm. Xã hiện còn đến 54,37% hộ nghèo. Lồng ghép các chương trình mục tiêu, như "Chương trình 135", "Chương trình 167"... mỗi năm cũng chỉ mấy trăm triệu đồng. May nhờ nguồn tín dụng Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank), vẫn tăng cho xã khoảng 35%/năm, cái nghèo mới đang dần được cải thiện. Nhưng đó là vốn cho sản xuất, đời sống và cũng còn phụ thuộc vào ngân hàng. "Gút" lại, làm NTM theo "lộ trình 800", Sơ Pai trông đợi chính là từ vốn ngân sách Nhà nước. Tuy thế, với những đường sá, trạm điện, trụ sở UBND, trường học, nhà văn hóa xã, thôn... nếu có được xây dựng xong vào năm 2015, thì đó vẫn chỉ là "phần cứng", như bộ khung xương của ngôi nhà mới. Mà như nhà báo biết đấy, nhà nếu thiếu nội thất, vật dụng... vẫn sẽ chưa ra nhà, không ở được. Xã lo nhất vẫn là "phần mềm" sản xuất và đời sống nhân dân. Xã cũng đã tính đến hết các nguồn lực, có cả kiến nghị rồi, nhưng quả thực vốn vẫn là một bài toán nhiều ẩn số"... Ông Chủ tịch xã Sơ Pai kết luận.
Ngày thứ tư của chuyến đi thực tế, tôi đến xã KDang, huyện Đăk Đoa, cách thành phố Pleiku khoảng 30 km. Chủ tịch xã Ngô Thanh Tùng tiếp tôi rất niềm nở. Người gốc Huế, độ ngoài 30, nhưng Ngô Thanh Tùng trông có vẻ thư sinh lắm. Nghe nói anh được dân tín nhiệm bầu làm Chủ tịch từ một Chánh văn phòng có thâm niên nhiều năm. Chẳng trách ông "xã trưởng" này "nói có sách, mách có chứng", đâu ra đấy. "Cũng như nhiều xã khác, KDang đã hoàn thành việc lập "Đề án xây dựng NTM của xã giai đoạn 2010 - 2020". Tổng kinh phí khái toán 149,254 tỷ đồng. Văn bản đề án đã có sẵn trong máy tính đây, xin "cóp" qua USB cho nhà báo nghiên cứu sau. Vì xây dựng NTM là một quá trình dài lâu... Giờ ta đi làng M'Răh theo yêu cầu thực địa của nhà báo để còn kịp chụp hình đồng bào thu mủ cao su. Xin cho nhà báo biết, M'Răh là làng đồng bào Bah Nar đang và sẽ là một NTM đầu tiên của xã KDang", Chủ tịch Tùng khẳng định.
19 tiêu chí của mô hình NTM gồm: Quy hoạch và thực hiện quy hoạch, giao thông, thủy lợi, điện, trường học, cơ sở vật chất văn hóa, chợ nông thôn, bưu điện, nhà ở dân cư, thu nhập bình quân đầu người/năm, tỷ lệ hộ nghèo, cơ cấu lao động, hình thức tổ chức sản xuất, giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường, hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh và an ninh, trật tự xã hội. |
Bài 2: Có một lời giải từ làng M'Răh
Theo Ama Linh – Thời báo Ngân hàng