• Logo Agribank mới
  • Logo Agribank mới 2
Những bình luận về lịch sử tín dụng nông nghiệp - nông dân -nông thôn và sứ mệnh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam thời kỳ WTO
(Cập nhật lúc 0:0 ngày 20/5/2008)

Từ chỗ chỉ có vài nghìn hộ nông dân năm 1991 được vay tín dụng của Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam (Trong 20 năm qua, AGRIBANK đã 3 lần đổi tên: 1988-1990: Ngân hàng phát triển nông nghiệp VN; 1990-1996: Ngân hàng nông nghiệp VN và từ 1996 đến nay: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn VN - AGRIBANK)
  Đến nay đã có hơn 10 triệu hộ khách hàng, với trên 70% tổng dư nợ (242.102 tỷ đồng) của AGRIBANK dành cho kinh tế hộ nông dân và nông thôn có quan hệ tín dụng với AGRIBANK, tương đương với 90% tổng dư nợ tín dụng của toàn ngành Ngân hàng Việt nam tại khu vực nông nghiệp và nông thôn. 
Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945 nước “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Độc lập, tự do, hạnh phúc” được thành lập. Nhưng ngay sau đó, đất nước lại phải bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ 2 thêm 9 năm “nếm mật, nằm gai” nữa! Mặc dù vậy, tân Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn quan tâm hỗ trợ vốn cho hộ nông dân. Ngày 3/2/1947, Nha Tín dụng sản xuất được thành lập có nhiệm vụ cho vay nông dân bằng vốn do ngân sách cấp, từ năm 1947 - 1951 doanh số cho vay 320 triệu đồng tài chính (tương đương gần 400.000 USD hoặc 44.500 tấn gạo). Ngày 6/5/1951, Ngân hàng quốc gia được thành lập và từ đây, việc cho vay trực tiếp hộ nông dân được coi là nhiệm vụ hàng đầu. Trong 3 năm 1952 - 1954 khoảng 660 triệu đồng ngân hàng (tương đương 7.800.000USD/9=866.665 tấn gạo) đã được cho vay cho đối tượng này.

Năm 1954 Hiệp định Giơneve được ký kết, Việt Nam bị tạm thời chia cắt làm 2 miền bởi vĩ tuyến 17. ở Miền Bắc trong thời kỳ khôi phục sản xuất 1955-1957, Ngân hàng cho vay hộ nông dân với số tiền trên 39 tỷ đồng, giúp nông dân mua trên 10 vạn trâu bò cày, phát triển hệ thống thủy lợi nhỏ nông thôn.

Từ 1958, thực hiện tập thể hóa nông nghiệp, Ngân hàng hầu như chỉ cho vay kinh tế quốc doanh và các hợp tác xã, không còn cho vay trực tiếp hộ nông dân cho đến những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ 20 - Cận thời kỳ đổi mới 1986.

Ở miền Nam, dưới chế độ của Nguỵ Quyền Sài Gòn, các ngân hàng thương mại hầu như không cho vay hộ nông dân. Sau khi miền Nam được giải phóng, ngay từ tháng 5/1975, Ngân hàng của Uỷ Ban cách mạng lâm thời đã cho vay hộ nông dân để khôi phục sản xuất. Từ 1975 - 1977, dư nợ cho vay hộ nông dân chiếm 14% doanh số cho vay ngắn hạn và 75% doanh số cho vay trung dài hạn trong tổng dư nợ từng loại trên toàn miền nam. Từ năm 1978, sau khi thống nhất ngành Ngân hàng Việt nam trên toàn quốc, ở miền Nam cũng tiến hành “tập thể hóa nông nghiệp” và “cải tạo công thương nghiệp”... nên ngân hàng cũng không còn cho vay trực tiếp hộ nông dân giống như chính sách ở miền Bắc cùng thời kỳ.

Tháng 12/1986, Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới, chuyển từ cơ chế quản lý tập trung bao cấp sang cơ chế nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, hạch toán kinh doanh Xã hội chủ nghĩa. Theo đó, các thành phần kinh tế, trong đó có kinh tế cá thể, hộ sản xuất, tiểu chủ, tư bản tư tư nhân... đều được khuyến khích phát triển, được tiếp cận vốn Ngân hàng và bình đẳng trước pháp luật. Từ năm 1988, bước vào thời kỳ “khoán 10”, trên cả nước hộ nông dân được xác định là đơn vị kinh tế tự chủ; được sử dụng ruộng đất lâu dài với 5 quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế và thế chấp. Hệ thống ngân hàng cũng được đổi mới, chuyển từ 1 cấp sang 2 cấp, Ngân hàng nhà nước giữ vai trò Ngân hàng Trung ương quản lý vĩ mô, các NHTM được hình thành và tách ra khỏi các “Cục hoặc Vụ chức năng trực thuộc NHNN” để trực tiếp kinh doanh tiền tệ tín dụng. Ngân hàng phát triển Nông nghiệp Việt Nam (tiền thân của AGRIBANK ngày nay) ra đời trong bối cảnh đó (26/3/1988). Với lĩnh vực đầu tư chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, ngay từ đầu đã xác định cho vay trực tiếp hộ nông dân là đối tượng khách hàng chủ yếu. Do rất nhiều năm hoạt động cho vay cá thể không tồn tại nên bước đầu Ngân hàng phát triển nông nghiệp gặp vô vàn khó khăn, không những về cách thức tổ chức tiến hành kinh doanh trên một địa bàn rất rộng lớn, mà còn do những lo ngại như nông dân không trả được nợ, ngân hàng không quản lý được vốn vay vì địa bàn hẻo lánh, món vay nhỏ, lẻ…Trên cơ sở những kinh nghiệm đã có trong các thời kỳ trước đây, tham khảo cách thức cho vay của mô hình Ngân hàng nông nghiệp Thái Lan (BAAC), mô hình tổ nhóm tương hỗ của Indonesia,… từ năm 1989, Ngân hàng phát triển nông nghiệp Việt nam bắt đầu tổ chức thí điểm và từng bước triển khai phát triển tín dụng hộ nông dân.

Từ hơn 10 năm nay, tín dụng đối với hộ nông dân của AGRIBANK đã trở thành “dòng chủ lưu” trong hoạt động ngân hàng tại khu vực nông nghiệp cùng với sự tham gia của nhiều tổ chức tín dụng khác, gồm: 5 NHTM Nhà nước, nhiều Ngân hàng cổ phần nông thôn, hơn 900 quỹ tín dụng nhân dân và Ngân hàng Chính sách xã hội...Trong đó, riêng dư nợ tín dụng của AGRIBANK luôn chiếm 90% tổng dư nợ tín dụng toàn ngành cho khu vực này.

Những thành tựu trong hoạt động tín dụng đối với hộ nông dân của AGRIBANK 20 năm qua:

- Tăng trưởng liên tục mạnh mẽ cả về dư nợ, số hộ được vay và chất lượng tín dụng: Tổng tài sản khi mới thành lập năm 1988 là 1.500 tỷ đồng, đến thời điểm 31/12/2007 là 325.802 tỷ đồng, tương đương 20 tỷ USD và lớn gấp 220 lần năm 1988! Trong đó 70% tổng dư nợ của AGRIBANK dành cho khu vực nông nghiiệp.

Từ chỗ chỉ có vài nghìn hộ nông dân năm 1991 được vay tín dụng của “Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam” (Trong 20 năm qua, AGRIBANK đã 3 lần đổi tên: 1988-1990: Ngân hàng phát triển nông nghiệp VN; 1990-1996: Ngân hàng nông nghiệp VN và từ 1996 đến nay: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn VN - AGRIBANK), đến nay đã có hơn 10 triệu hộ khách hàng, với trên 70% tổng dư nợ (242.102 tỷ đồng) của AGRIBANK dành cho kinh tế hộ nông dân và nông thôn có quan hệ tín dụng với AGRIBANK, tương đương với 90% tổng dư nợ tín dụng của toàn ngành Ngân hàng Việt nam tại khu vực nông nghiệp và nông thôn.

- Đa dạng hóa đối tượng cho vay, tạo điều kiện cho hộ nông dân thỏa mãn các nhu cầu về vốn.

Ngoài sản xuất kinh doanh, hộ nông dân còn được AGRIBANK cho vay khi có nhu cầu vốn để đầu tư vào các lĩnh vực phi nông nghiệp như: Xuất khẩu lao động; Mua xe ô tô, xe máy để phục vụ sản xuất đời sống, xây dựng, sửa chữa nhà; Khắc phục khó khăn trong sản xuất, đời sống (như thiên tai, dịch bệnh gia súc, gia cầm…) v.v.

- Đa dạng hóa phương thức cho vay giúp hộ nông dân thuận lợi, dễ dàng khi vay vốn.

AGRIBANK đã áp dụng các phương thức cho vay thuận tiện cho người vay như hạn mức tín dụng (trong mức vay quy định mỗi lần vay không phải làm thủ tục đơn từ); lưu vụ (các vùng trồng lúa có 2 vụ liền kề được duy trì nợ vay, không phải trả gốc từng lần)….

- Chất lượng tín dụng được bảo đảm, tỷ lệ nợ quá hạn ngày càng thấp, đến nay là dưới 2%. Hộ nông dân trả nợ tốt, ngay cả khi do có khó khăn được Ngân hàng gia hạn, khoanh nợ, sau đó khi khôi phục và phát triển trở lại, người vay luôn cố gắng trả nợ sòng phẳng như các trường hợp đối với hộ vay trồng cà phê, cao su, dập dịch cúm gà trong những năm qua.

Các giải pháp AGRIBANK đã áp dụng để bảo đảm thành công:

1. Tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của chính quyền và các tổ chức chính trị xã hội như Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ; Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh…AGRIBANK là Ngân hàng thương mại nhưng hoạt động tín dụng đối với kinh tế hộ luôn gắn chặt và hỗ trợ về tư vấn cho nông dân phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, ổn định nông thôn. Do đó, Ngân hàng luôn tranh thủ và được chính quyền các cấp rất quan tâm ủng hộ, tạo điều kiện thuận lợi để ngân hàng cho vay, thu nợ an toàn, đúng hạn. Ngân hàng đã phối hợp với các tổ chức Hội để lập được hàng vạn tổ vay vốn để hỗ trợ, giám sát nhau trong thẩm định, giải ngân, thu nợ và đã tiết kiệm được nhiều bước công việc của ngân hàng.

2. áp dụng các điều kiện cho vay thuận lợi:

- Tăng cường tín chấp, đổi mới thế chấp:

AGRIBANK đã nâng mức vay vốn không phải thế chấp tài sản đối với hộ nông dân từ 500.000 đồng năm 1991 tới thời điểm hiện nay đã ở các mức:

+ 30 triệu đ/hộ với hộ có sản phẩm hàng hóa thực tế;

+ 50 triệu đ/ hộ với hộ nuôi trồng, sản xuất giống thủy sản có dự án khả thi;

+ 20 triệu đ/món đối với người đi lao động xuất khẩu;

+ Được thế chấp bằng chính tài sản vay vốn nếu để mua xe ô tô, xe máy...

- Hồ sơ thủ tục vay đơn giản, dễ hiểu. Ngân hàng và các tổ vay vốn thường xuyên hướng dẫn thủ tục vay cho nông dân.

3. Mở rộng màng lưới tại các địa bàn để tăng cường tiếp cận hộ nông dân.

Với hơn 2.000 chi nhánh và Phòng giao dịch, AGRIBANK có mặt tại tất cả các tỉnh, huyện và bình quân không đến 4 xã có 1 trụ sở dịch vụ tín dụng cho nông dân. Đồng thời áp dụng ngân hàng lưu động với 741 xe ôtô chuyên dùng chở tiền hiện đại, trong đó 341 xe do Ngân hàng thế giới WB tài trợ. Mô hình ngân hàng lưu động giúp người dân gửi tiền, vay vốn, trả nợ rất có hiệu quả, được bà con ca ngợi và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đánh giá cao trên các phương tiện thông tin đại chúng; Đến nay AGRIBANK được UNDP xếp hạng thuộc top 200 DN lớn nhất Việt nam.

4. Thực hiện nguyên tắc kinh tế thị trường trong cho vay hộ nông dân, bảo đảm ngân hàng có lãi hợp lý, với mức chênh lệch lãi suất đầu vào, đầu ra bình quân 3%/năm.

5. AGRIBANK không ngừng phát triển nhóm khách hàng và loại sản phẩm. Ngoài hơn 2000 chi nhánh và Phòng giao dịch, AGRIBANK còn có 8 Công ty trực thuộc, kinh doanh, dịch vụ trên các lĩnh vực độc lập khác nhau như: Vàng, bạc; Chứng khoán; cho thuê tài chính; Bảo hiểm; In ấn; Du lịch và góp vốn liên doanh, hoặc tham gia mua cổ phần làm nhà đầu tư chiến lược vào ĐCTC khác...Đến nay, AGRIBANK ngày càng trở thành một Ngân hàng thương mại đa năng, thực hiện các nghiệp vụ dịch vụ hiện đại và đang tiến tới hình thành một Tập Đoàn tài chính hàng đầu tại Việt nam sau khi cổ phần hoá trong tương lai không xa.

6. AGRIBANK không ngừng mở rộng màng lưới tại các đô thị để huy động vốn đầu tư cho khu vực nông thôn. Số vốn huy động của các chi nhánh trên địa bàn 4 thành phố lớn (Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh) đã chiếm trên 45% tổng vốn huy động của AGRIBANK trên toàn quốc. Đến nay, vốn tự huy động chiếm trên 95% tổng nguồn vốn. Bên cạnh vốn trong nước, luôn chú trọng các nguồn vốn uỷ thác hoặc vốn ưu đãi của các tổ chức quốc tế, WB, ADB, AFD…tới nay, AGRIBANK đã thu hút và triển khai nhiều dự án FDI, ODA đầu tư vào khu vực nông thôn lên tới trên 4 tỷ USD.

7. Tăng cường học tập trao đổi kinh nghiệm với các tổ chức thành viên APRACA, CICA. Kinh nghiệm của Ngân hàng Nông nghiệp các nước như: Pháp, Canada, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, v.v. có ý nghĩa rất lớn giúp AGRIBANK trong quản trị và tổ chức hoạt động. AGRIBANK thường xuyên tham gia tích cực các Hội thảo do Hiệp Hội tín dụng nông nghiệp, nông thôn châu á Thái Bình Dương (APRACA), CICA tổ chức và thông qua đó học tập được rất nhiều bài học bổ ích và áp dụng có hiệu quả trong thực tiễn.

Tuy nhiên, cho đến nay, hoạt động tín dụng nói chung ở khu vực nông thôn Việt nam mới chỉ chú ý “độc canh” tín dụng đối với sản xuất nông nghiệp là chính, còn “2 đối tượng” rất lớn và quan trọng khác là “nông dân” và “nông thôn” thì dường như còn “bỏ ngỏ”. Nông dân đang đứng trong tình thế “tách dần” mảnh ruộng của mình “nhường” đất (trong đó kể cả “bờ xôi, ruộng mật”) cho công nghiệp và trang trại sản xuất hàng hoá tập trung để tự biến mình thành “công nhân nông nghiệp không nghề đi làm thuê”! Họ rất cần cơ chế về chính sách xã hội cũng như về vốn để “chuyển nghề”, để dồn điền đổi thửa và “ly nông nhưng không ly hương”...nhưng người nông dân vẫn “chờ”! Trong khi công nghiệp chiếm chỗ của nông nghiệp chủ yếu lại là công nghiệp lắp ráp cơ khí hoặc công nghiệp “thuần” thủ công, gia công, mỹ nghệ; còn công nghiệp chế biến nông phẩm thì qui mô rất hạn chế - Sản vật từ nông nghiệp Việt nam đem xuất khẩu vẫn mang nặng hàm lượng “thô”: Từ sản phẩm là hạt đến cây, con, củ, quả...đều hầu như “nguyên sơ”, hàm lượng giá trị gia tăng hết sức thấp. FDI vào Việt nam đến nay tính luỹ kế sau 20 năm Luật đầu tư nước ngoài đã lên đến xấp xỉ 9000 dự án đang còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký tới trên 85 tỷ USD...nhưng “chảy” vào khu vực nông nghiệp, nông thôn chỉ vỏn vẹn 4,6% giá trị. Trong khi đó, FDI vào khu công nghiệp là 61%, khu vực dịch vụ là 34,4%! Bộ mặt nông thôn – cả về kết cấu hạ tầng kỹ thuật, lẫn cơ sở hạ tầng xã hội (đặc biệt là giáo dục và y tế) đều có khoảng cách quá lớn so với khu vực thành phố, đô thị....Chính lẽ đó cùng với việc đổi mới tư duy về “tam nông”, thị trường dịch vụ tín dụng, ngân hàng cũng phải đổi mới cơ cấu thị phần và cả cơ cấu các sản phẩm tiện ích Ngân hàng để không chỉ hướng vào nông nghiệp, mà cần hướng mạnh cả vào chất lượng sống của bản thân người nông dân và bộ mặt nông thôn. Sứ mệnh này trước hết thuộc về AGRIBANK!

Định hướng phát triển:

Việt Nam đang tập trung vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trước hết là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Trong lộ trình Việt nam trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, thì trong số các thước đo “thế nào là một nước công nghiệp” phải bao gồm “thước đo” quan trọng nhất là hàm lượng làm nên “nước công nghiệp” từ nông thôn phải chiếm một tỷ trọng lớn nhất. Chính vì vậy, phát triển nền kinh tế trở thành một nền kinh tế công nghiệp phải có nghĩa là phát triển hợp lý cơ cấu công nghiệp thuần, công nghiệp trong dịch vụ và công nghiệp trong khu vực “tam nông”- Đó là chiến lược toàn diện và lâu dài trên con đường xây dựng một quốc gia: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Dịch vụ Ngân hàng ở khu vực “tam nông” cũng phải phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng theo hướng đầu tư hợp lý trên cả “3 mũi giáp công”: “tam nông”!

Cùng với sự phát triển sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn luôn gia tăng. Với mức vốn vay bình quân 10 triệu đ/hộ mới chỉ bảo đảm hỗ trợ các chi phí cho sản xuất hàng hóa nhỏ, đủ ăn, hoặc phát triển nông nghiệp sản xuất nhỏ. Để trở thành nền nông nghiệp hàng hóa, phát triển nông thôn phồn thịnh...đòi hỏi mức vốn vay bình quân phải đạt tối thiểu 20 triệu đ/hộ trong các năm đến 2015 và trên 30 triệu đ/hộ vào năm 2020.

Để đáp ứng yêu cầu trên, có lẽ AGRIBANK cần có các biện pháp sau:

1. Tập trung đẩy mạnh huy động vốn cả trong và ngoài nước bằng cách đa dạng các hình thức huy động, mở rộng mạng lưới giao dịch, tranh thủ vốn của các tổ chức quốc tế, Ngân hàng nước ngoài…Ap dụng tích cực các giải pháp quản trị Ngân hàng theo tiểu chuẩn CAMELs.

2. Đẩy mạnh cơ cấu lại AGRIBANK theo hướng trở thành Ngân hàng Thương mại hiện đại, đạt các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn và hiệu quả (tỷ lệ an toàn vốn tự có/ tài sản có rủi ro; lợi nhuận/vốn (ROE); lợi nhuận/TSC (ROA); nợ quá hạn, nợ xấu…).

3. Sau cổ phần hoá sẽ hình thành: Tập Đoàn tài chính nông nghiệp – nông dân - nông thôn Việt Nam.

4. Thực hiện triệt để nguyên tắc tín dụng đồng bộ đối với kinh tế khu vực “tam nông” là tín dụng theo nguyên tắc thị trường, bảo đảm Ngân hàng có lãi sau khi đã bù đắp chi phí và trích dự phòng rủi ro. Ngân sách Nhà nước hỗ trợ nông dân phải là “hỗ trợ sau đầu tư” thông qua nhiều hình thức: qua việc đầu tư cơ sở hạ tầng, khuyến khích khoa học, công nghệ, đào tạo, trợ cấp trực tiếp khi có thiên tai – Phương châm là: đồng hành với cả “3 mũi giáp công” nhưng AGRIBANK không bao cấp, bù lỗ qua tín dụng...

 

Tóm lại, từ khi thực hiện đổi mới, tín dụng đối với hộ nông dân sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp (gọi chung là hộ nông dân) được khôi phục và phát triển rất mạnh và khá vững chắc nhờ sự quan tâm của Chính phủ, các giải pháp phù hợp của Ngân hàng Nhà nước và các NHTM, trong đó AGRIBANK luôn luôn giữ vai trò nòng cốt. Dư nợ cho hộ nông dân chiếm gần 30% tổng dư nợ toàn nền kinh tế, trong đó riêng AGRIBANK đã đáp ứng tới 90%. Hầu hết bộ phận hộ nông dân được vay vốn ngân hàng. Tín dụng đối với hộ nông dân thực sự là đòn bẩy thúc đẩy nông nghiệp Việt nam phát triển toàn diện, mạnh mẽ và đang ngày càng trở thành ngành nông nghiệp hàng hoá, không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà doanh số xuất khẩu của nhiều ngành hàng có xuất xứ nguyên liệu, lao động từ nông nghiệp, nông thôn ngày càng lớn. Việt nam là một quốc gia nông nghiệp, lâm nghiệp, du lịch, hải cảng và thuỷ hải sản; là một trong những lối đi ra Đại Dương của thế giới...Hầu hết các thế mạnh “tự nhiên” nói trên đều có địa chỉ tại các vùng nông thôn và hộ gia đình. Vì vậy, các doanh nghiệp công nghiệp chế biến và một phần lớn công nghiệp chế tạo, đào tạo, xây dựng... cũng cần phải được chi phối bởi đặc thù và tiềm năng nói trên. Sứ mệnh của dịch vụ Ngân hàng với tư duy toàn diện là dịch vụ cho khu vực kinh tế “tam nông” do đó ngày càng lớn lao - Vị thế mà ở đó AGRIBANK phải tạo ra “dòng chủ lưu” về dich vụ Ngân hàng cũng do đó ngày càng trở nên quan trọng và phải là đối tượng để xây dựng chiến lược phát triển của AGRIBANK trong suốt kỷ nguyên WTO của Việt Nam.!.

Các tin mới hơn
Agribank và "Đề án đầu tư tín dụng cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn"
(11/03/2009)
Một số nhìn nhận về nguyên nhân lạm phát Việt Nam
(20/05/2008)
Kinh nghiệm quốc tế về hạn chế sự ảnh hưởng của tiền gửi Chính phủ đến kiểm soát tiền tệ của NHTW
(20/05/2008)
Cập nhật ngày
Áp dụng tại Sở giao dịch Agribank
Tỷ giá có thể thay đổi trong ngày
Danh hiệu